Cách cài đặt phần mềm trong Ubuntu
Đối với những người dùng Windows sau khi chuyển sang Linux thì việc cài đặt, gỡ bỏ và nâng cấp 1 phần mềm sẽ vô cùng căng thẳng. Trong Windows chúng ta chỉ có 1 cách rất thông thường là click vào file setup.exe hay install.exe, chờ 1 tí và xài. Còn trong Linux, chúng ta có khá nhiều cách để làm chuyện đó. Trong bài này tôi sẽ giới thiệu 1 vài cách thông dụng khi cài phần mềm trong Ubuntu.
Phần mềm cho Linux nói chung và Ubuntu nói riêng thì nhiều vô kể, nhưng vì là một môi trường “tương đối mới” nên có thể nhiều bạn vừa chuyển từ Windows sang chưa thể tìm và cài đặt được đúng thứ mình cần trên Linux.
Bài viết này sẽ hướng dẫn bạn cách để cài đặt được phần mềm mới cho Ubuntu dựa vào những công cụ sẵn có:
- Add/Remove… cái này đơn giản nhất, giống Add/Remove trong Control Panel của Windows.
- apt: chạy từ cửa sổ dòng lệnh, khá tiện dụng nếu đã dùng quen.
- synaptic: cái này gần như trình Add/Remove nhưng rất mạnh.
- Cài đặt trực tiếp từ gói phần mềm, hoặc biên dịch từ mã nguồn.
1. Phần mềm trên Linux được phân phối thế nào?
Trên Windows phần mềm thường được phân phối ra dưới dạng file cài đặt .msi hoặc .exe thì trên Linux cũng gần tương tự như vậy, có điều trên Linux có nhiều hình thức hơn thôi. Phần mềm cho Linux thường có ở những nơi sau:
- Trong bộ đĩa cài đặt: thường với những bản phân phối lớn như Redhat, openSuse, Mandriva… mà bộ đĩa cài lên tới 5 hay 6 đĩa CD.
- Trên trang web của nhà sản xuất: người dùng thường phải tự down về và thường có sẵn hướng dẫn cài đặt cho từng hệ thống.
- Trên các Repository, gọi tắt: repo: là các nơi chứa phần mềm tập trung trên mạng dành riêng cho một hệ thống nào đó. Ubuntu và Debian sử dụng repo nhiều nhất, kế đến là Fedora và openSuse. Mọi phần mềm đều được chứa tại repo và khi nào người dùng cần thì phần mềm sẽ được tải về từ repo rồi cài đặt lên máy. Rất tiện lợi trong việc cập nhật phần mềm.
Các gói phần mềm có thể được lưu ở dạng file chạy được (như file setup.exe thường thấy trên Windows, chúng thường là trình cài đặt riêng của nhà sản xuất) hoặc ở định dạng phân phối dành riêng mà phổ biến nhất là .RPM và .DEB, các gói phần mềm này có thể cài đặt dễ dàng và gần như đã thành chuẩn chung cho việc phân phối phần mềm.
Phần mềm cũng có thể được phân phối dưới dạng mã nguồn, nhất là phần mềm nguồn mở, người dùng phải tự biên dịch trên máy rồi cài đặt, thường chỉ áp dụng với những phiên bản mới nhất của phần mềm nhỏ, mất ít thời gian biên dịch, hoặc khi chưa có bản deb hay rpm tương ứng.
2. Định nghĩa RPM & DEB?
RPM (Redhat package manager) và DEB (Debian software package) là hai định dạng file chuyên dùng cho phân phối phần mềm. Chúng giống như định dạng file nén mà trong đó chứa tất cả nhưng file chạy và cấu hình của phần mềm, thông tin về phần mềm, nhà sản xuất, những yêu cầu về hệ thống… Hệ điều hành Linux sẽ có một phần mềm chuyên dùng để cài đặt các gói phần mềm dạng này (giải nén, chuyển các file của phần mềm vào đúng chỗ, cấu hình cho phần mềm…) và nói chung thì phân phối phần mềm kiểu này rất dễ cài đặt.
Mỗi file RPM hoặc DEB chỉ chứa một phần mềm hoặc một phần nào đó của phần mềm. Vì vậy thường khi cài một phần mềm phải cài đặt kèm theo 1, 2 hay thậm chí cả chục gói khác. Chúng ít khi chứa toàn bộ thư viện vì số lượng thư viện dùng chung là khá lớn, nên đôi khi xảy ra tình trạng không thể cài đặt do thiếu một gói nào đó thuộc về một chương trình khác chẳng hạn. Chương trình cài đặt bao giờ cũng kiểm tra xem toàn bộ gói cần thiết đã được cài đặt trước chưa, nếu thiếu một gói nào đó, quá trình cài đặt sẽ dừng lại. Công việc này gọi là “check dependency”.
Chính vì sự ràng buộc đó nên chúng ta mới cần đến những phần mềm hỗ trợ cài đặt. Những phần mềm này sẽ tự động tải về hoặc tìm tất cả những gói có liên quan rồi lần lượt cài đặt chúng theo đúng thứ tự. Nhờ đó mà mọi việc sẽ suôn sẻ.
3. Sử dụng Ubuntu Software Center (gọi tắt USC):
Dễ sử dụng và quen thuộc nhất có lẽ là trình Ubuntu Software Center (Add/Remove…) sẵn có trong mọi bản Ubuntu. Bạn chọn menu Applications > Ubuntu Software Center… để mở trình cài đặt phần mềm dành riêng cho Ubuntu.

Màn hình USC
Bạn có thể dễ dàng tìm kiếm phần mềm mình cần bằng cách nhập từ khoá vào ô Search, hoặc xem danh mục phần mềm theo các hạng mục có sẵn ở màn hình chính Get Free Software.

Danh mục Internet
Khi chọn danh mục phần mềm, bên phải cửa sổ là danh sách phần mềm và khi nhấn vào mũi tên bên phải hiển thị thông tin về phần mềm. Cài đặt phần mềm nào chỉ cần nhấn vào nút Install, mọi thứ sẽ diễn ra thật tuần tự và chính xác.
Đối với Ubuntu 9.04 trở về trước, bạn nhắp vào mục chọn Show và chọn danh mục tương ứng để xem cho đầy đủ danh sách phần mềm (tốt nhất là chọn “All available applications“). Phiên bản 9.10 trở đi thì không cần
2. Sử dụng apt-get với cửa sổ dòng lệnh
Dùng dòng lệnh có lẽ thuận tiện hơn vì khi dùng Ubuntu Software Center bạn khó có thể cài đặt riêng một gói thay vì cài trọn cả phần mềm. Hơn nữa dùng dòng lệnh cũng dễ dàng thao tác hơn. Chọn menu Applications > Accessories > Terminal để mở cửa sổ dòng lệnh, và từ đó bạn có thể thử những lệnh sau:
sudo apt-get install xyz: lệnh tiến hành tải về và cài đặt gói xyz, sẽ cài thêm cả những gói liên quan nếu cần.
sudo apt-get remove xyz: lệnh gỡ bỏ gói đã cài, có thể sẽ gỡ thêm cả những gói khác nếu thấy không cần đến nữa.
sudo apt-cache search xyz: lệnh tìm kiếm để đưa ra danh sách những gói có từ cần tìm, giống chức năng search trong USC.
3. Synaptic: cái vỏ giao diện cho apt-get
Nói đúng ra thì synaptic chả liên quan gì mấy đến apt-get, nhưng mà quả thực synaptic giống như việc dùng apt-get mà có thêm giao diện cửa sổ.
Bạn chọn menu System > Administration > Synaptic Package Manager để mở chương trình này. Chú ý có hộp thông báo yêu cầu nhập mật khẩu.
![screenshot-synaptic-package-manager[1] Giao diện Synaptic Package Manager](http://ubuntut.com/wp-content/uploads/2009/11/screenshot-synaptic-package-manager1.png)
Giao diện Synaptic Package Manager
4. Cài đặt trực tiếp từ file .rpm và .deb
Nếu bạn có sẵn file RPM hoặc DEB ở đâu đó thì thật là phí công và tốn kém nếu lại phải tải phần mềm về. Bạn hoàn toàn có thể cài đặt trực tiếp từ các file đó, miễn là phải đủ các file cấu thành phần mềm. Một điều cũng hết sức quan trong là bạn phải có bản dành cho đúng hệ máy. Ví dụ các file rpm thường dùng cho redhat, opensuse, trong khi file deb thường dùng cho debian và ubuntu.
Ngoài ra còn là số phiên bản của phần mềm, sử dụng cho loại máy nào. Ví dụ các phần mềm cho máy intel hay amd 32bit thường có phần “i386″ hay “i586″ trong tên, cho máy 64bit thì trong tên gói phần mềm sẽ có kí hiệu “am64″ hay “x64″, cho các máy dùng chip PowerPC thì có kí hiệu “ppc”. Điều này là rất quan trọng vì nếu có gói mà không phù hợp thì bạn cũng cài được.
Để cài file deb trên Ubuntu thì bạn chỉ việc mở file đó ra như một file bình thường khi đang duyệt thư mục trong Nautilus (trình quản lí tập tin trong Gnome), chương trình quản lí file deb sẽ tự chạy:
![screenshot-package-installer-build-essential[1] Nautilus](http://ubuntut.com/wp-content/uploads/2009/11/screenshot-package-installer-build-essential1.png)
Nautilus
File rpm muốn cài đặt lên ubuntu phải được chuyển đổi sang dạng deb. Nhưng nói chung không nên làm thế vì thường sẽ thiếu tính thương thích. Trên những hệ thống Linux dùng định dạng file rpm bạn có thể cài file bằng lệnh su rpm -i xyz với xyz là tên gói cần cài đặt.
(c) Tổng hợp
- Trong bộ đĩa cài đặt (thường với những bản phân phối lớn như Redhat, openSuse, Mandriva… mà bộ đĩa cài lên tới 5 hay 6 đĩa CD)
- Trên trang web của nhà sản xuất (người dùng thường phải tự down về và thường có sẵn hướng dẫn cài đặt cho từng hệ thống)
- Trên các repository (gọi tắt: repo) là các nơi chứa phần mềm tập trung trên mạng dành riêng cho một hệ thống nào đó. Ubuntu và Debian sử dụng repo nhiều nhất, kế đến là Fedora và openSuse. Mọi phần mềm đều được chứa tại repo và khi nào người dùng cần thì phần mềm sẽ được tải về từ repo rồi cài đặt lên máy. Rất tiện lợi trong việc cập nhật phần mềm.
Các gói phần mềm có thể được lưu ở dạng file chạy được (như file setup.exe thường thấy trên Windows, chúng thường là trình cài đặt riêng của nhà sản xuất) hoặc ở định dạng phân phối dành riêng mà phổ biến nhất là .RPM và .DEB (các gói phần mềm này có thể cài đặt dễ dàng và gần như đã thành chuẩn chung cho việc phân phối phần mềm). Phần mềm cũng có thể được phân phối dưới dạng mã nguồn (nhất là phần mềm nguồn mở), người dùng phải tự biên dịch trên máy rồi cài đặt (thường chỉ áp dụng với những phiên bản mới nhất của phần mềm nhỏ, mất ít thời gian biên dịch, hoặc khi chưa có bản deb hay rpm tương ứng).






















Phản hồi (0)
Trackbacks - Pingbacks (0)
Viết phản hồi